Hoa Tư Dẫn- Phần 4:Trọn đời bình an – Chương 01

Ngày hôm sau chúng tôi rời Bối Trung, Chấp Túc đi theo còn được, nhưng Bách Lý Tấn một mực đòi đi theo thì quả rất thú vị.

Tôi và Quân Vỹ dự định giữa đường tìm cách bỏ rơi Chấp Túc và đám hộ vệ, cho nên biện pháp cuối cùng nghĩ ra là để Bách Lý Tấn đeo mặt nạ đóng giả tôi, còn tôi đeo mặt nạ đóng giả anh ta, ra khỏi Bối Trung đoàn sẽ chia làm hai ngả, Bách Lý Tấn đưa Chấp Túc, Tiểu Hoàng và đám hộ vệ tìm một lý do nào đó đi về hướng bắc, về hướng bắc, lại tiếp về hướng bắc, còn tôi và Quân Vỹ cưỡi ngựa truy phong đi Hạo thành, kinh đô Trần quốc gặp Quân sư phụ.

Lúc đầu Bách Lý Tấn phản đối rất dữ, nhưng ngoài anh ta chỉ có cách để Tiểu Hoàng đóng giả tôi, nếu vậy quả là quá khó.

Chuyện hành thích Trần vương tôi đã suy nghĩ rất nhiều, làm người phải giữ chữ tín, tôi được Quân sư phụ tái sinh trở lại nhân gian, sau khi chết vẫn có thể viên tròn ước nguyện mà suốt cả cuộc đời trước luôn day dứt tiếc nuối, cho nên bất luận thế nào cũng không thể nuốt lời, cho nên nhất định phải hành thích Trần vương.

Mộ Ngôn là tướng quân nước Trần, tôi biết, từ thượng cổ lương tướng trung thần có người trung thành với xã tắc, có người trung thành với quân vương, nhưng quả thực không thể đoán Mộ Ngôn thuộc loại nào, không dám hình dung chàng sẽ thế nào nếu biết tôi sẽ giết quân vương của chàng.

Ở đời có khi chuyện càng đơn giản càng khiến người ta đau đầu. Bất luận suy tính thế nào, đều khẳng định là thật thà chỉ có đường chết, muốn vẹn toàn cả hai, chuyện này chỉ có thể giấu Mộ Ngôn. Tôi nghĩ chỉ cần hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng này là đời này tôi không nợ ai nữa, từ đó có thể theo chàng suốt đời đến tận chân trời góc bể.

Trên đường một lần nữa nghe tin thừa tướng Khương quốc Bùi Ý bị giết, dư luận xôn xao, cơ hồ thiên hạ đều cho rằng chuyện do nước Triệu gây ra, bàn tán rất nhiều, rằng Triệu vương bản tính nham hiểm, hành xử hà khắc. Trước giết Tô Dự, sau giết Bùi Ý, lòng lang dạ sói.

Những lời đồn đó từ đâu ra đại khái có thể đoán được, Bùi Ý thực ra là bị Công Nghi Huân giết, Công Nghi Phỉ nói đó vốn là nhiệm vụ của chàng ta, tất cả đều vì nước Trần, xem ra Tô Dự bắt đầu báo thù.

Ngày trước Khương vu cho Triệu giết Tô Dự, lúc này Trần giết Khương thừa tướng, lại tung ra tin đồn như vậy nhất định khiến Khương rối loạn, dễ cho rằng đó là đòn báo thù của Triệu, đâu có ngờ người đứng sau âm mưu này lại chính là nước Trần từng được thiên tử phong thưởng.

Mộ Ngôn đi Triệu chuyến này có lẽ là phụng mật lệnh của Tô Dự liên minh với Triệu vương, chắc chắn sẽ tiết lộ với Triệu chuyện Khương vu oan cho Triệu, từ đó xúi bẩy Triệu gây chiến với Khương, có lẽ không lâu nữa, chiến tranh Triệu, Khương sẽ khai hỏa.

Theo tôi, chọc vào người khó chọc còn nguy hiểm hơn yêu người không nên yêu, Bùi Ý cả gan chọc vào Tô Dự, quả nhiên bị mất mạng.

Trần thế tử Tô Dự, con người luôn khiến thiên hạ xoay như chong chóng, đằng sau tiếng thơm nhân hậu hiền đức che giấu bao thủ đoạn hiểm ác, vậy mà trên thiên tử dưới lê dân, ai cũng cho là thanh liêm chính trực, trượng nghĩa, thủ tín, đóng kịch giỏi như vậy quả thật là bậc quân vương bẩm sinh, nước Vệ bị diệt dưới tay anh ta tôi tâm phục khẩu phục.

Nhưng nói vậy thôi, lúc đó Vệ đã hủ bại đến thế, bị diệt bởi tay ai tôi cũng tâm phục khẩu phục.

Phóng ngựa đi hai ngày đường, qua bao nhiêu cảnh vật làng quê, cuối cùng đến Hạo thành. Thành ngoại có sông bao quanh, rộng mười trượng, hai bên bờ trồng liễu, mùa hè nắng gắt liễu soi mình tỏa bóng xuống sông, thỉnh thoảng có tiếng ve trong lá. Một toà thành thơ mộng như vậy, đâu đâu cũng một cảnh tượng du nhàn, trên đường phố thỉnh thoảng lại thấy những công tử nhà giầu phóng đãng tay cầm lồng chim dẫn theo vài ba nô tài đùa giỡn trêu chọc con gái nhà lành.

Quân Vỹ rất không tán đồng, cho rằng nhất định chúng tôi đi sai phương hướng, làm gì có kinh đô nào phóng túng như vậy, thực ra có lẽ anh ta chưa từng trải. Hạo thành kinh đô Trần quốc, một trong những kinh đô phồn thịnh nhất đại lục, nói trắng ra là người ta thế này là che mắt thiên hạ, sức mạnh ẩn dưới vẻ phù hoa hào nhoáng bên ngoài, trông càng phong lưu phóng đãng, ý chí càng kiên định khó lay.

Quân Vỹ nói đùa, nói vậy nghĩa là nơi ý chí kiên định khó lay nhất đại lục có lẽ là kỹ viện. Tôi lại thấy biết đâu đấy, sao dám khẳng định không phải thế.

Quân sư phụ chờ chúng tôi ở Tứ Hải Lầu, lữ quán lớn nhất Hạo thành, sư phụ cho rằng ở nơi hỗn tạp, rồng, rắn chen nhau như vậy mới dễ che mắt thiên hạ,

Chúng tôi được biết, thì ra động tĩnh mới của Trần vương thất chỉ là lễ mừng thọ Trần vương, lúc đó bá quan vào cung chúc tụng, tương đối dễ trà trộn vào, nhưng rút cục sư phụ định bố trí thế nào, tôi và Quân Vỹ cũng chưa biết, chỉ đoán là đây chính là nguyên do sư phụ từ núi Quân Vu cách xa ngàn dặm đích thân lặn lội đến đây.

Đang đêm Quân sư phụ gọi tôi và Quân Vỹ đến phòng, vốn tưởng bàn chuyện cơ mật gì, không ngờ sư phụ dùng dao rạch nhẹ ngón tay tôi, thản nhiên uống mấy giọt máu của tôi pha với nước trà lạnh, giống như Tống Ngưng đã làm ngày trước.

Không biết sư phụ định làm gì, tôi và Quân Vỹ băn khoăn nhìn nhau, đột nhiên nghe thấy sư phụ hỏi: “Lai lịch Hoa Tư dẫn thế nào, chắc hai con đã nghe nói?”. Thấy tôi và Quân Vỹ lắc đầu, sư phụ hơi ngừng lại, bỏ chiếc cốc trong tay xuống, chậm rãi giải thích: “Viên giao châu được phong ấn Hoa Tư dẫn thế gian chỉ có độc nhất một viên, không phải là thánh vật gì của Quân Vu giáo, mà là di vật của sư phụ ta để lại cho ta. Sư phụ của ta có lẽ hai con cũng từng nghe, mang họ kép Mộ Dung, tên là An.

Tôi sững người. Mộ Dung An. Đã sớm nghe danh sư xuất cao đồ, cao nhân như Quân sư phụ mặc dù từng nghĩ sư phụ của ông ắt phải là bậc cao nhân, nhưng nghĩ trăm lần cũng không thể nghĩ ra lại chính là Mộ Dung An.

Cái tên đã trở thành truyền kỳ, phàm những người liên quan đến bí thuật không ai không biết. Một trong những bí thuật sĩ cao minh nhất đông lục, có một tư dung siêu phàm trác việt vượt hết thảy thế gian, sư phụ Huệ Nhất tiên sinh của tôi đã từng vinh hạnh được gặp, ca tụng là nhan sắc tuyệt thế.

Ngồi lặng mãi mới cất lên lời, tôi kinh ngạc hỏi: “Nghe đồn Mộ Dung An chết hai mươi năm trước trong trận chiến Lịch Khâu giữa hai nước Khương – Trần, không biết năm đó có phải Mộ Dung An bị Trần vương hãm hại?”.

Ông nhắm mắt, rất lâu sau, giọng mơ hồ vang lên: “Trần vương Tô Hoành là sư đệ của ta”. Tôi lại lần nữa chấn động.

Trong đêm thu bóng nguyệt chan chứa, Quân sư phụ để cho chúng tôi nhìn thấy Hoa Tư điệu của ông, nói về quá vãng đã chôn vùi hơn hai mươi năm trước, cũng là nguyên nhân ông nhất quyết hành thích Trần vương.

Giọng ông khe khẽ, vang lên trong ánh nến yếu ớt: “Chuyện năm xưa sư phụ chưa bao giờ nói với ta, người biết chuyện chỉ cảm thấy Tô Hoành còn trẻ tuổi, sư phụ ta đã sai, nhưng họ quên mất một điều, sư phụ là một vong hồn, không quan tâm đến đạo đức nhân luân, còn Tô Hoành năm xưa tuy tuổi còn trẻ nhưng chưa chắc trong lòng đã không hiểu rõ, ta không tin định mệnh, nhưng rất nhiều năm sau hồi tưởng lại cũng không khỏi cảm thấy, gặp Tô Hoành có lẽ là hung mệnh của sư phụ ta…”.

Trong tiếng nhạc trầm trầm, từng cảnh trong câu chuyện Quân sư phụ vừa nói tới hiện ra trước mắt tôi, chuyện bắt đầu từ một đêm giữa hạ hai mươi nhăm năm trước.

Tôi nhìn thấy một rừng phong lụi tàn, trăng sáng treo trên trời cao, tỏa ánh rạng ngời. Nhưng rừng phong dưới ánh trăng lại đượm màu chết chóc yêu ma, tháng sáu vốn là mùa lá phong nảy nở tươi xanh, nhưng ở đây thân khô cành héo, lá úa vàng lay lắt trên cành, có gió thổi lại không thấy rung lay.

Cả khu rừng im lìm như chết, không tiếng chim, không tiếng côn trùng, không sinh khí.

Tôi đang nghi ngờ trước mắt là bức tranh hay là cảnh thực, bỗng thấy một thiếu niên áo đen cưỡi tuấn mã màu đen phi như bay vào rừng phong, móng ngựa đạp xào xạo trên lớp lớp lá khô tích tụ, quạ đêm không biết từ đâu kêu oang oác, rào rào rơi xuống như lá rụng.

Tiếng vó ngựa rầm rập vang lên phía sau chàng thiếu niên, tiếng vó ngựa dồn dập truy bức gần tới nơi, mấy mũi tên vút qua lá phong cắm vào thân cây, con tuấn mã của chàng thiếu niên đột nhiên giương vó hí vang một tiếng, có lẽ bị trúng tên. Tôi nhìn mà sởn da gà, cảm thấy thiếu niên bị truy đuổi cùng đường, chắc chắn phải chết, trong rừng bất chợt vang lên tiếng lục lạc tinh tang.

Tiếng vó ngựa phi gấp, tiếng tên lao vun vút, tiếng lục lạc tinh tang, cảnh tượng trước mắt giống như ảo giác. Càng lạ lùng hơn, cùng với tiếng lục lạc tinh tang mỗi lúc càng rõ càng tiến càng gần, rừng phong tàn im lặng như chết trong chớp mắt như được hồi sinh, như một bức tranh thủy mặc trải ra, rễ đâm tua tủa bên dưới đám lá mục, trên cành nảy chồi xanh, cảnh tiêu điều từ từ chìm xuống, cả rừng phong lập tức sống lại tràn trề sinh khí.

Sương mù từ mặt đất bốc lên, lẩn quất trong lá cây, trên không truyền đến tiếng cười trong như tiếng chuông bạc, một cái bóng màu đỏ thoáng vút trong sương mù, nhanh đến không kịp nhận ra, chỉ có tiếng lục lạc tinh tang vang vọng, tiếng ngựa hí, tiếng người kêu thảm loạn trong màn sương, lát sau tất cả đã yên tĩnh không một tiếng động. Sương mù tan dần, một thiếu nữ áo đỏ lộng lẫy tay cầm trường kiếm đứng trên cành phong, xung quanh hàng đàn bướm đỏ bay dập dờn.

Thiếu niên áo đen ngồi trên lưng ngựa, hơi ngửa mặt nhìn ân nhân cứu mạng, dưới ánh trăng, đôi đồng tử đen in bóng áo đỏ, cặp mày thanh, mắt hạnh đào, trên trán in hình con bướm đỏ giương cánh. Mái tóc đen thướt tha, dưới gấu váy đỏ lộ ra đôi chân trần trắng như tuyết, trên cổ chân nhỏ nhắn đeo chuỗi lục lạc bằng bạc sáng loáng.

Kiếm trong tay vẫn nhỏ máu, cô không bận tâm, nghiêng đầu liếc qua những xác chết ngổn ngang trên mặt đất, ánh mắt dừng lại trên đôi mắt đẹp của thiếu niên đang lặng lẽ nhìn mình: “Ngươi là ai? Tại sao lại đến đây?”.

Khóe mắt hơi nhếch lên, tươi cười, lời nói ra lại lạnh như băng: “Lẽ nào ngươi không biết, tự tiện xông vào rừng lá đỏ Phương Sơn ắt phải chết?”.

Thiếu niên thúc ngựa tiến lên hai bước, ánh mắt liếc qua gót chân trần của cô: “Cho dù là đêm mùa hạ, cô nương đi chân trần thế này, e sẽ bị cảm lạnh”.

Bướm đỏ đã bay mất từ lúc nào, trường kiếm cũng không thấy đâu, tiếng lục lạc lại vang lên trong không trung, gót hồng đã đậu trên đầu tuấn mã chàng thiếu niên đang cưỡi, tuấn mã vẫn đứng yên.

Cô hơi cúi xuống, tay phải nâng cằm chàng thiếu niên: “Ngươi không sợ ư?”.

Chàng hơi ngẩng đầu, nhìn cô: “Tại sao ta phải sợ?”.

Cô ngây ra một lúc rồi bật cười: “Thật là một nam nhi thú vị, ngươi nói thế khiến ta không muốn giết ngươi nữa”.

Chàng trai thấy mình được an toàn vẫn không đổi sắc mặt, ánh mắt một lần nữa liếc qua gót chân trần của cô: “Cô không đi giày”.

Cô nghiêng đầu: “Thế thì sao?”.

Ánh trăng chiếu lên khuôn mặt nghiêm trang hơi lạnh của chàng thiếu niên, giọng nói nhẹ như tuyết bay gió thoảng: “Trông cô thế này, cô định đi đâu?”, hơi dừng lại: “… Để tôi đưa cô về nhà”.

Thiếu niên thúc ngựa phóng về phía tay cô vừa chỉ, rừng phong phía sau chớp mắt lại trở về cảnh tượng chết chóc ban đầu. Vó ngựa vừa vút qua, một thiếu niên áo xanh từ sau cây phong chỗ cô gái vừa đứng ló ra, tay cầm đôi giày lụa thêu màu đỏ, khẽ thở dài, nhìn kỹ nhận ra đó chính là Quân sư phụ lúc tuổi đôi mươi.

Thời gian vụt trôi, thì ra cô gái áo đỏ đó chính là Mộ Dung An, còn thiếu niên áo đen chắc là Trần vương Tô Hoành thuở thiếu niên. Chăm chú xem cảnh đó, hai mươi tư năm trước Tô Hoành mười sáu tuổi, đúng rồi, lúc đó ông ta vẫn chưa là Trần vương, mà là Trần quốc Hoành công tử.

Nghe nói tự cổ chí kim, phàm những trang giai nhân tuyệt sắc tình trường đều trắc trở, nhưng Mộ Dung An mà sử sách ghi chép cơ hồ không bị vướng vào oan nghiệt đó, trái lại chính những trang nam nhi gặp cô, tình lộ ai ấy đều trở nên truân chuyên, trắc trở.

Trong số đó người nghĩ quẩn nhất phải kể đến tứ công tử Trang Kế của Hạ quốc. Không nhớ rõ bộ dã sử nào ghi chép, nói Trang Kế muốn cưới Mộ Dung An, sự không thành, đành ôm hận mà chết, mẫu thân chàng muốn xin Mộ Dung An một món tóc để táng theo chàng, nhưng vị công tử đã chết vì mình là ai Mộ Dung An cũng không biết.

Sử sách chỉ dừng ở đó, vốn tưởng chỉ là truyền thuyết dân gian không đáng tin, lúc này thông qua Hoa Tư điệu của Quân sư phụ mới thấy hóa ra chuyện có thật.

Ba tháng sau khi Trang Kế công tử qua đời, Mộ Dung An xuất hiện ở lầu xanh lớn nhất Hạo thành, mỗi ngày đều tiếp hai vị khách, khách lên lầu thù tạc họa thơ thưởng nguyệt không cần ngàn kim vạn bạc, nhưng nhất thiết phải kể cho cô nghe một câu chuyện tình. Bởi vong hồn trở lại trần thế đương nhiên không hiểu thế thái nhân luân, điều đó nói lên cái chết của Trang Kế công tử đã làm cô xúc động, ít nhất cũng khiến cô bắt đầu hiểu chữ tình rốt cuộc là gì?

Nhưng tình duyên của Mộ Dung An và Tô Hoành một khi đã bén không gì ngăn được, có ai ngờ, một con người lãnh đạm kiêu ngạo như Tô Hoành lại đến lầu xanh, gọi đích danh Mộ Dung An, mặc dù lầu chủ nói rõ, cô gái này hơi đặc biệt, không bán thân không bán nghệ, cô đến nơi này thuần túy chỉ vì muốn kiểm nghiệm khổ ải của nhân sinh…

Mộ Dung An trí nhớ không tốt. Khi Tô Hoành vén rèm bước vào mặc dù dung quang chẳng khác lần gặp ban đầu, ngoài không cưỡi tuấn mã đen, thậm chí xiêm áo cũng giống hệt đêm đó, nhưng cô ngẩn người không nhận ra chàng, vẫn ung dung co gối ngồi trên ghế quý phi, thần thái khoan thai, không nhìn khách thêm một lần: “Đêm nay chàng đến là để kể chuyện cho ta? Chàng mang đến câu chuyện thế nào?”.

Mắt cô vẫn nhìn đi nơi khác: “Ta biết một chàng công tử yêu một cô gái, mắc bệnh tương tư mà chết, câu chuyện của chàng liệu có ly kỳ như thế?”.

Chàng để cốc trà xuống bàn, “Chuyện đó có gì ly kỳ, chẳng qua là một người yếu đuối, vì không được thỏa mãn tham vọng, chết bất đắc kỳ tử mà thôi”.

Cô ngẩn người, cuối cùng quay lại nhìn chàng: “Vậy chàng đến đây không phải để kể chuyện ư?”.

Chàng nhìn qua cửa sổ, một khuôn mặt nhìn nghiêng vô cùng tuấn tú, thong thả nói: “Nàng nói đúng, ta xưa nay không biết kể chuyện. Chỉ là hai tháng trước ta không cẩn thận xông vào một khu rừng phong, được một cô gái áo đỏ cứu mạng, về sau chúng tôi chia tay, ta không thể nào tìm thấy nàng. Ta đến đây để hỏi có lẽ nàng biết cô gái ta cần tìm ở đâu?”.

Mắt cô lộ vẻ mơ màng, chăm chú nhìn chàng một lát, nhếch môi cười: “Là chàng sao?”.

Chàng không nói.

Cô hơi nghiêng đầu, như hồ nghi, tôi không nhận ra động tác của cô, khi định thần đã thấy cô chân trần đứng trước mặt chàng, giống như lần đầu họ gặp nhau, cô cúi xuống nhìn chàng, trước khi mở miệng còn giả bộ suy nghĩ nghiêm túc: “Chàng tìm ta… chàng tìm ta… là muốn gì?”.

Chàng bình tĩnh ngẩng đầu: “Nàng nói xem?”.

Nhìn cô hình như băn khoăn thật, chàng chậm rãi nói: “Một người đàn ông trăm phương ngàn kế tìm một cô gái, ngoài muốn có được cô ấy, còn có thể vì cái gì?”.

Cô như giật mình: “Có được cô ấy? Chàng định làm gì để có được cô ấy?”.

Nụ cười tinh nghịch dâng lên trong mắt chàng: “Cho nên ta đến thỉnh giáo nàng, phải làm thế nào để có được cô ấy”.

Cô quả thật sững ra một lát, lát sau, cuối cùng hiểu ra chàng định nói gì, nụ cười hiện dần trong mắt: “Thật thú vị!”.

Dưới ánh đèn, con bướm đỏ trên trán lạnh lẽo yêu mị, ánh mắt cô dừng lại trên bàn tay thanh tú của chàng: “Nếu chàng đánh bại cô ấy, đương nhiên sẽ có được cô ấy. Ngoài ra không còn cách nào khác”.

Tôi thầm nghĩ, thôi rồi, lại một cuộc đấu võ kén chồng. Nhưng cái gọi là đấu võ chẳng qua cũng chỉ là chinh phục và bị chinh phục. Thực ra, tại sao nhất thiết phải lấy người chinh phục mình, lấy người mình chinh phục cũng tốt chứ sao, như vậy nếu xảy ra bạo lực gia đình mình cũng không đến nỗi rơi vào thế hạ phong.

Nhưng rõ ràng Mộ Dung An không nghĩ thế, có lẽ chỉ là một cách thoái thác, cô vốn không muốn lấy ai, chắc chắn những lời từ chối đó chính là nguyên nhân mấy người đàn ông không thể có được như cô, như Trang Kế công tử, bởi không ai có thể thắng cô.

Đêm hôm đó Tô Hoành không nói gì ra về, cũng không rút kiếm thử với cô vài chiêu. Nhìn bóng chàng rời đi, Mộ Dung An thản nhiên giơ tay vuốt trán, môi lạnh lùng cười khẩy một tiếng, có lẽ cô cho rằng Trần quốc Hoành công tử thực ra cũng chỉ thế mà thôi.

Mộ Dung An là người thế nào, cả đông lục không ai tường tận, trước đây tôi chỉ biết qua những truyền thuyết thiên hạ truyền tụng về cô, các đạo sĩ cho rằng may mà cô quá siêu phàm khó bắt chước, nếu không đã có vô khối thiếu nữ sùng bái cô mà đi lệch đường.

Bây giờ nhìn thấy việc làm của cô, cảm thấy mối lo của các đạo sĩ là thừa.

Quân sư phụ nói gặp Tô Hoành là hung mệnh của Mộ Dung An nhưng xem đến đây cảm thấy tất cả đều trái ngược.

Mộ Dung An thần thái ung dung, người đắm đuối mê muội lại là Tô Hoành. Thì ra vốn tưởng hai người sẽ âm thầm nảy sinh tình cảm do tình sư phụ, đệ tử sớm tối bên nhau, bây giờ xem ra giả thiết đó đã bị lung lay.

Nửa năm sau Tô Hoành trở thành đệ tử của Mộ Dung An. Một ân nhân của Mộ Dung An đưa Tô Hoành đến rừng lá đỏ Phương Sơn bái sư, nói rõ muốn học kiếm thuật của Mộ Dung An.

Tôi không biết chuyện này rốt cuộc là do Tô Hoành cố ý bày ra hay là duyên phận. Quân sư phụ lại không nói, nhưng lần thứ ba gặp lại, nhìn thấy Tô Hoành xuất hiện trong rừng lá đỏ, Mộ Dung An rõ ràng sững người, lát sau mỉm cười, “Lại là ngươi”.

Cô vốn là một hồn ma sinh ra từ sát khí ngưng tụ trên chiến trường cổ, bao nhiêu năm nhân sự như phù vân lướt qua trước mắt, rất ít người khiến cô nhớ được, nhưng cô lại nhớ được Tô Hoành, không chỉ nhớ chàng, xem ra còn nhớ những lời chàng nói đêm đó.

Dưới vầng trăng tròn, Mộ Dung An vẫn tư thái ung dung đứng dưới một cây phong khô héo, hứng thú nhìn đệ tử mới nhập môn trước mặt: “Mặc dù có câu băng vốn từ nước mà thành nhưng lạnh hơn nước, xanh vốn từ lam nhưng đậm hơn lam, đệ tử không nghĩ chỉ cần bái ta làm sư là sẽ có ngày thắng được ta đấy chứ?”.

Thiếu niên áo chùng đen đi lướt qua cô, đến chỗ sâu trong rừng phong, bóng đổ dài dưới trăng, giọng nói thanh lạnh tản trong gió: “Sư phụ nghĩ nhiều rồi”. Kính cẩn tới mức có vẻ như trước nay chàng ta chỉ coi cô là sư phụ, con người ngang nhiên hỏi cô làm thế nào để có được cô nửa năm trước cơ hồ chưa từng tồn tại.

Trên Phương Sơn, sau khu rừng lá đỏ kỳ dị đó có một thiên động, có sơn thủy bốn mùa xanh tươi, có cổ thụ um tùm râm mát, một ngôi lầu trúc thấp thoáng dưới bóng cây, chính là biệt cư của Mộ Dung An.

Từ khi bái sư, Tô Hoành cư xử đất đúng đạo, ngôn hành nghiêm cẩn, đối với Mộ Dung An rất mực lễ độ, ngoài ăn ngủ, hầu như chỉ chuyên tâm luyện kiếm pháp, như một đồ đệ tôn sư trọng đạo, say mê kiếm thuật, tư chất thông minh lại chuyên cần nỗ lực.

Tôi nghi ngờ có lúc Mộ Dung An như đang thăm dò Tô Hoành, có lẽ cô không biết thiếu niên đó nghĩ gì, hoặc là thái độ một người tại sao trước sau lại khác xa như vậy. Trước đây tôi có nghe Quân Vỹ kể một câu chuyện, cũng là sư phụ và đệ tử, kể rằng một buổi tối, đệ tử luyện kiếm trở về nhìn thấy sư phụ nằm ngủ dưới bóng cây, đệ tử không thể kìm lòng đã mạo phạm sư phụ, sau đó bắt đầu một mối tình nồng nàn dai dẳng.

Nhưng rõ ràng Tô Hoành kìm chế hơn nhiều so với đệ tử đó, có một thời gian Mộ Dung An ngày nào cũng ngủ trưa ở trong khu rừng chàng luyện kiếm, còn đặc biệt cho đặt một chiếc giường mây ở chỗ chàng thường ngồi nghỉ khi luyện tập mỏi mệt, chàng lại bỏ đi chỗ khác như một người có giáo dưỡng, không hề có biểu hiện bất kính nào đối với sư phụ.

Nhưng càng như thế Mộ Dung An dường như càng hiếu kỳ. Lúc đầu khi Tô Hoành mới bái sư cô chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện, đa phần là lúc Tô Hoành gặp khó khăn, thong thả đưa vài câu chỉ giáo đại loại “Muốn chiêu thức nhanh hơn mắt của mình, thì không nên nhìn bằng mắt”. Những câu người bình thường nghe không hiểu hoặc nghe rồi cũng không biết nên làm theo thế nào.

Về sau lại hầu như ngày nào cũng tập với Tô Hoành, chỉ dẫn kiếm pháp cẩn thận hơn trước nhiều, thỉnh thoảng hứng lên lại cầm kiếm thử vài chiêu với chàng, nhưng cũng chỉ dừng ở mức hướng dẫn đồ đệ vận dụng kiếm pháp tốt hơn mà thôi, còn đọ sức chính thức chưa bao giờ xảy ra.

Nhưng ngày hôm đó cơ hồ hơi khác thường.

Đó là ngày đại tuyết tháng mười một, tuyết phủ ngập núi, khu rừng luyện kiếm tuyết chồng chất, lạnh đến nỗi hơi thở ra lập tức đóng băng, cây tùng lá kim bị tuyết đóng thành cột băng, khắp rừng toàn những cột băng lạnh nhấp nhô trong tuyết.

Mặt trời trên đầu chỉ là quầng trắng lờ mờ, hắt ra tia lạnh, kiếm trong tay hai người vun vút loang loáng, hoàn toàn không có điểm dừng như mọi khi, đòn ra tay, đòn đánh trả đều quyết liệt. Kiếm pháp giống hệt nhau, khinh thủ trọng công, không có chiêu thức nào khác, một đòn ra chỉ là xem ai nhanh hơn ai, lá kim trên cây rơi xuống ào ào như nước, họ đã hoàn tất ba lần đánh giáp lá cà.

Trong rừng chỉ thấy tiếng tuyết rơi và tiếng kiếm va vào nhau chan chát trong tuyết lạnh cô đơn, phảng phất màu thiền.

Sau một ánh kiếm lóe lên, cột băng bên cạnh Mộ Dung An đổ rầm, người cô hơi lùi lại né sang phải một cách bản năng, chỉ trong tích tắc, thân hình áo đen của Tô Hoành đã như một con rồng đen vút qua, không nhìn rõ chàng ra chiêu thế nào, trường kiếm trong tay cô đã bị chàng đánh bật, trước khi rời khỏi tay cô đã kịp vạch trên người chàng một vệt máu dài với những hạt máu li ti, đầu kiếm dính máu, từ trên không cắm phập xuống tuyết, để lại một vệt đỏ trên tuyết trắng chỗ lưỡi kiếm cắm vào, còn kiếm của chàng bình ổn ép vào cổ cô.

Lại một cột băng nữa bị phạt đổ, vụn tuyết bắn lên, hai người thở gấp, lưỡi kiếm của chàng vẫn không thu lại, mắt đăm đăm nhìn cô: “Còn nhớ lúc đó đã nói gì không, sư phụ”.

Cô giơ tay đẩy lưỡi kiếm trên cổ ra, nghiêng đầu: “Ta đã băn khoăn, thấy chàng say mê kiếm thuật như vậy, ta đã tưởng những lời chàng nói ở thanh lâu mấy tháng trước là ta nhớ nhầm”.

Chàng thu kiếm vào bao, máu vẫn chảy nhưng chàng không bận tâm: “Nếu không dùng bí thuật ly hồn, chỉ đơn thuần dùng kiếm thuật, hôm nay nàng đã không thể thắng ta, nếu nàng sử dụng ly hồn thuật đối với ta, cả đời này ta cũng không thể thắng nàng, tình cảm của ta chưa bao giờ thay đổi, tất cả chỉ phụ thuộc vào nàng”.

Chàng từng bước tới gần cô, tuyết lạo xạo dưới chân, nhưng không át nổi tiếng chàng: “Nàng muốn dùng ly hồn thuật đối với ta sao?”.

Cô không trả lời, lại gật đầu tán đồng nửa câu trước của chàng: “Chàng nói đúng, nếu có ngày kiếm vẫn còn mà ta lại thua, đó là bởi vì ta muốn thua”.

Cô hơi ngước mắt, đôi mắt đen láy lóng lánh ánh cười, chân bước tới, từng bước thu hẹp khoảng cách với chàng, hơi kiễng chân, môi cơ hồ dán vào tai chàng: “Hôm nay, ta thua rồi”.

Chàng mãi không có phản ứng, còn cô đã thản nhiên lùi ra, giơ tay che ánh nắng ngước nhìn trời, nói như than: “Chưa ăn gì đã giao chiến, bụng hơi đói”.

Nói xong nhặt thanh kiếm lên. Nhưng vừa quay người chưa kịp bước đã bị người phía sau nắm lấy tay. Tôi bật ra hơi thở nãy giờ vẫn vít trong cổ họng từ lúc họ bắt đầu giao thủ, xem ra qua một lúc lâu như thế Tô Hoành cuối cùng mới hiểu ý câu nói vừa rồi của cô. Cô quay người tươi cười nhìn chàng: “Ôi, chàng làm đau ta rồi”. Nhưng chàng vẫn không buông tay, tay kia giơ lên thận trọng vuốt ve con bướm đỏ xinh xắn trên trán cô như vuốt ve một thánh vật, đầu hơi cúi, đôi môi nhạt màu áp lên cánh bướm.

Cô khẽ cười một tiếng: “Gan của chàng chỉ có vậy thôi?”. Không đợi chàng phản ứng, cô đã kiễng chân ôm cổ chàng, môi ép vào môi chàng. Sau phút sững sờ, chàng quàng tay ôm cô, ép vào thân cây tùng phía sau lưng, mặt vẫn ngơ ngẩn, đôi mắt thâm trầm như nước dịu dàng nhìn cô: “Nàng cũng thích ta, đúng không?”.

Lại một năm mùa xuân hoa nở, mùa hạ lá xanh, từ khi Tô Hoành lên núi bái sư, rừng cây trên núi đã hai lần thay lá, tình cảm nảy sinh giữa sư phụ và đệ tử nhìn từ góc độ lễ giáo là trái nhân luân, đạo đức xã hội khó dung.

Nhưng đây là thế giới của Mộ Dung An, cách biệt nhân thế, tuyệt đối không có ai chỉ trích họ, người duy nhất cảm thấy không thỏa chỉ có Quân sư phụ, nhưng Quân sư phụ lúc này quả thực không có quyền phát ngôn.

Thời gian hơn một năm hai người sớm tối bên nhau, giống như hầu hết những đôi vợ chồng bình thường trên đời, đêm trừ tịch năm đó, Mộ Dung An treo trên cửa bức hoành phi bốn chữ “nhất thế trường an”(6).

Nhất thế trường an, đơn đơn giản giản bốn chữ, một dấu hiệu tốt lành, nhưng sự đời đâu đơn giản như vậy, Tô Hoành là công tử Trần quốc. Không biết ai đó nói, tòa lâu đài xây thì lâu như vậy, trải qua bao nỗ lực như vậy, phá hủy nó lại chỉ cần thời gian một cái chớp mắt, câu nói quả chí lý.

Mùa xuân năm Trần Văn hầu thứ hai mươi ba, Trần quốc công tử Tô Hoành tổ chức đại hôn lễ, cưới Mộ Chỉ, trưởng nữ của Mộ Hành tướng quân làm vợ, Mộ Dung An rời khu rừng lá đỏ đi đâu không ai biết.

Sự việc thực ra rất đơn giản, chẳng qua Văn hầu vương dồn ép, giữa vương vị và Mộ Dung An, Tô Hoành chỉ có thể chọn một, cuối cùng Tô Hoành lựa chọn vương vị.

Tháng chín, Trần hầu vương báo với thiên tử lập công tử Diễn (Tô Hoành) làm thế tử, gia phong Mộ Chỉ làm thế tử phi. Một đêm, Quân sư phụ ôm một đứa trẻ vừa đầy tháng xuất hiện ở thư phòng của Tô Hoành, nói là Mộ Dung An đã chết, để lại cốt nhục này, mong chàng nghĩ đến tình sư đệ năm xưa, đối xử tốt với đứa bé.

Đứa bé được bọc trong tã khóc oe oe không ngớt, Tô Hoành ôm nó ngồi trong thư phòng thức trắng đêm, khi rời khu rừng lá đỏ chàng không biết Mộ Dung An đã có thai.

Nhưng tôi luôn cảm thấy Mộ Dung An chưa chết. Mặc dù ma đích thực không thể mang thai sinh con, nếu có cũng dễ bị chết trong quá trình mang thai và sinh nở, nhưng Mộ Dung An mạnh mẽ như vậy, nếu một hồn ma mạnh mẽ như vậy cuối cùng vẫn không thoát khỏi kiếp nạn khó sinh mà chết, quả khiến người ta thất vọng. Tuy nhiên căn cứ quan trọng nhất vẫn là theo dã sử lưu truyền, Mộ Dung An chết ở chiến trường Lịch Khâu trong cuộc chiến giữa hai nước Trần, Khương…

Quân sư phụ nói Tô Hoành là hung mệnh của Mộ Dung An, đến giờ tôi mới tin. Tính cách Mộ Dung An như vậy có lẽ không dễ yêu, một khi đã yêu là yêu suốt đời suốt kiếp, còn Tô Hoành, con người này rất bí hiểm, khó dò.

Tình cảm của chàng ta đối với Mộ Dung An không có vẻ giả dối, nhưng cũng có thể sẵn lòng từ bỏ.

Tôi nghĩ người chàng ta yêu nhất trước sau chỉ có Mộ Dung An, nhưng bất luận thế nào cô cũng không thể địch nổi giang sơn xã tắc, không địch nổi vương vị dưới một người trên vạn người. Nhưng dùng giang sơn vạn dặm vô cương đổi lấy cuộc sống vạn dặm cô đơn có phải là điều chàng muốn?

Nghĩ lại, cảm thấy mình thật ấu trĩ, có giang sơn vạn dặm nghĩa là có mọi mỹ nhân trong thiên hạ, tuy có lẽ không được thứ mình muốn có nhất, nhưng lại có số lượng bù lại, làm gì còn cô đơn.

Tôi chờ đợi Mộ Dung An xuất hiện lần nữa, những sự việc xảy ra sau đó chỉ là chuyện vụn vặt không đáng nói, hai sự việc tương đối lớn đó là, năm đầu tiên sau khi Trần vương băng hà, Tô Hoành kế vị, năm sau hai nước Trần – Khương do tranh chấp biên giới nổ ra cuộc chiến tranh lớn.

Trong cuộc chiến Khương – Trần, Trần vương Tô Hoành đích thân xuất chinh. Tôi đã đọc cố sự đó trong sách sử, trong đó nói, Trần quốc thượng võ, các đời Trần vương đều trưởng thành trên lưng ngựa, Tô Hoành cũng thế, từ nhỏ theo cha chinh chiến biên cương trận mạc, tác chiến vô cùng mau lẹ cơ mưu, thường đích thân đi tiên phong, dẫn một đội khinh kỵ tinh nhuệ thâm nhập vào quân doanh đối phương thăm dò tình hình, hoặc đánh chọc sườn, giúp quân chủ lực có cách tác chiến thích hợp.

Vốn nghĩ có lẽ khi thân đã ở ngôi cao chàng sẽ không mạo hiểm tính mạng như vậy, nhưng qua trận Lịch Khâu, có thể thấy con người này cho dù đã trở thành quốc vương cũng không thay đổi phong cách tác chiến. Đêm trước khi xảy ra đại chiến, Tô Hoành vẫn mang hai mươi khinh kỵ lẻn vào trận địa Khương quân, vung kiếm đánh thẳng vào trận địa đối phương, sau đó lại vừa đánh vừa quay ra, đích thân cảm nhận thực lực địch quân.

Phương thức thăm dò địch tình này đối với chàng không là gì, thời thiếu niên thường làm như thế, nghe nói mấy lần lọt vào hiểm cảnh đều dựa vào sự bình tĩnh mưu trí mà an toàn thoát hiểm, thực là một kỳ tài.

Nhưng đêm đó, chàng mang hai mươi khinh kỵ luồn sâu vào quân doanh địch, lúc quay ra bất ngờ vấp phải mấy ngàn phục binh của đối phương mai phục trên đường. Khi thâm nhập vào quân doanh địch, đội khinh kỵ mang theo đã bị hao tổn, hơn nữa chiến mã cũng bị trúng tên, nếu không tìm ra diệu kế, rất khó hy vọng phá vây.

Sử sách không thấy ghi chép những tình huống hiểm nguy trước có phục binh, sau có truy binh chàng từng gặp khi còn là thế tử.

Trong rừng núi tối tăm, vòng vây mỗi lúc càng hẹp dần, đuốc đột nhiên sáng trưng, trống trận vang lừng, trống trận vốn là để cổ vũ sĩ khí, nhưng trong tình huống này lại có phần nực cười.

Trên sườn núi, ngồi trên lưng chiến mã đỏ au, mũi phun hơi phì phì, thống lĩnh tướng quân Khương quốc đắc ý cười ha hả: “Không ngờ Trần vương nức tiếng mưu dũng hôm nay lại bỏ mạng ở đây, xem ra cái gọi là mưu dũng cũng chỉ đến thế, là mưu dũng của kẻ phàm phu mà thôi, các huynh đệ, các huynh đệ thấy có phải không?”.

Lời vừa dứt, thủ cấp đã rơi bịch xuống đất lăn lông lốc. Một thanh kiếm dính máu cắm phập trên vách núi gần đó, thủ cấp đẫm máu của Khương tướng quân lăn mấy vòng, nụ cười đắc ý vẫn còn cứng đờ trên mặt.

Một tình cảnh thật khó tưởng tượng, tôi nhìn mà đau thay cho ông ta, bất giác giơ tay sờ vào cổ mình, may cái đầu vẫn yên vị trên cổ.

Nhưng nhát kiếm chém phăng thủ cấp Khương tướng đó không phải là của Tô Hoành hay thuộc hạ của Tô Hoành, trường kiếm của họ vẫn nắm trong tay, tôi tròn mắt quan sát cảnh tượng trong Hoa Tư mộng trước mắt, muốn tìm ra manh mối, đồng thời trong đầu cũng lóe lên ý nghĩ, liệu có phải một binh sĩ nào đó của phía Khương quân do ngưỡng mộ tài năng Tô Hoành mà ra tay cứu giúp. Cũng không biết tại sao chợt nghĩ đến Mộ Dung An.

Khi cái tên đó lóe lên trong đầu như một tia chớp, trên không trung bỗng vang lên tiếng lục lạc tinh tang. Tôi nhìn thấy đôi mắt mở to của Tô Hoành, vừa rồi bị Khương tướng làm nhục như vậy vẫn không nổi sóng giờ đột nhiên thất sắc, nhìn thẳng về phía phát ra tiếng lục lạc, bàn tay cứng đờ nắm dây cương.

Đối phương dường như cuối cùng đã hiểu ra chuyện gì, phó tướng trên lưng ngựa thét lên hạ lệnh khép vòng vây xông tới. Đúng lúc binh sĩ lăm lăm trường mâu trong tay dồn lên, trong ánh đuốc nhựa thông sáng rực, những đàn bướm đỏ không biết từ đâu vèo vèo bay ra

Chính thời khắc đó, rừng cây cổ thụ chọc trời bừng bừng sinh khí xung quanh đột nhiên lá cành bắt đầu héo rũ, chớp mắt đã biến thành cảnh rừng chết xác xơ, gió lớn bật đất mà lên, ánh lửa đuốc sáng rực nửa ngọn núi chớp mắt tắt ngấm, gió như trường đao cắt vụn màn đêm, trên bầu trời tĩnh lặng lại hiện ra một vầng trăng tròn.

Đàn bướm đỏ bay liệng trên không, toàn thân phát hồng quang rực rỡ, còn tiếng lục lạc cũng rõ dần, trong sắc đêm cuối cùng lộ ra bóng hoa phục màu đỏ của cô gái, mái tóc như dòng thác thả xuống tận gót chân, con bướm trên trán giương cánh như muốn bay, dáng mỹ miều băng lạnh, khóe miệng liên tục nhếch lên vẫn không thành nụ cười.

Tôi không ngờ Tô Hoành lại bất chấp nguy hiểm thúc ngựa qua, trong tình huống hiểm nghèo đó, chỉ cần động đậy là trở thành mục tiêu cho trận mưa tên của đối phương. Tôi biết chàng chỉ muốn phóng đến bắt cô, chàng tưởng cô đã chết, nhưng cô lại xuất hiện trước mặt chàng.

Chàng cơ hồ đã trấn tĩnh trở lại, ánh mắt dán chặt không rời khỏi cô, trận mưa tên bay vào chàng, chàng cũng chỉ bình tĩnh khua kiếm đỡ. Cô cúi xuống mắt lạnh lùng nhìn chàng, hai ống tay áo vừa phất, có tiếng “phù” trong gió, vạn vật xung quanh đột nhiên dừng lại như bị đóng băng, im phăng phắc, bao gồm cả vòng vây của binh sĩ Khương quốc vừa rồi còn nhốn nháo, bao gồm cả mũi tên bay đến, bao gồm cả Tô Hoành và con ngựa tung vó phi tới, thậm chí bao gồm cả những ngọn đuốc bốc khói.

Tiếng lục lạc khẽ vang, cô đứng trên đầu ngựa nghểnh cao của chàng, cúi đầu nhìn ánh mắt đen cầu khẩn của chàng, khẽ cười một tiếng: “Cuối cùng chàng vẫn yêu ta, ta không thua ai, chỉ thua vương vị của chàng”. Giọng thanh lạnh vang trong không gian tĩnh mịch như ném viên sỏi xuống mặt hồ, sóng loang ra mấy vòng rồi tiêu tan.

Tiếng lục lạc dưới chân lại tinh tang tinh tang, cô đã đạp gió tung người lên không, liếc nhìn trận địa bất động dưới chân, chầm chậm giơ bàn tay phải. Gió thổi tung mái tóc đen của cô, năm ngón tay mảnh dẻ kết thành hình nửa đóa hoa sen.

Một giọt máu từ tâm sen nhỏ xuống, đàn bướm đỏ bay liệng trong màn đêm đột nhiên hóa thành những mũi kim dài sáng chói. Hoàn toàn không nhìn rõ những mũi kim đó bay thế nào, chỉ cảm thấy trên bầu trời đêm đột nhiên bùng phát một đám khói cực lớn, trong ánh sáng màu đỏ, binh sĩ Khương quốc đang đứng như trời trồng chớp mắt biến thành những bộ xương trắng chồng chất.

Từ đống xương trắng nảy ra vô vàn ấu bướm đỏ. Sực nhớ tới những ghi chép trong sách sử, tôi sững sờ mãi mới hiểu ra, Mộ Dung An đã dùng bí thuật cổ trên quy mô lớn – ly hồn thuật.

Bí thuật hoa mỹ và tàn khốc trong truyền thuyết đó khi thực thi phong ấn cả không gian và thời gian của một khu vực, bướm đỏ ký sinh trong bí thuật hóa thành kim trâm hút máu thịt người sống, những cánh bướm kia đã nhuốm máu đỏ, càng nhiều bướm đỏ bay ra, xương trắng càng chồng chất.

Nhìn cảnh đó tôi thầm nghĩ Mộ Dung An khi sinh con đã hao tổn bao nhiêu tinh lực, lại thực thi ly hồn thuật trên trận địa lớn như vậy, làm sao trụ nổi?

Sự thực cho thấy lo lắng của tôi có lý.

Vầng trăng tròn dần dần hiện ra màu đỏ quái dị, gió thổi phồng ống tay áo, Mộ Dung An nhắm hai mắt, máu từ miệng không ngừng trào ra, giữa vầng trán hơi nhăn, con bướm đỏ yêu dị đó đột nhiên vẫy cánh bay mất, miệng cô thổ ra một ngụm máu tươi, không gian phong ấn đột nhiên mở ra, thân người loang máu hơi ngửa về sau, như sắp rơi xuống đống xương khô nhung nhúc ấu bướm trên chiến trường. Con chiến mã phía xa đột nhiên tung bờm hí vang, bóng áo đen của Tô Hoành rời lưng ngựa lao đến như một mũi kiếm.

Cô rơi xuống trúng ngực chàng, chàng nằm trên đống xương ôm chặt cô. Những con bướm đỏ chết chóc bay quanh cô, sắc mặt cô trắng bệch, môi lại vẫn đỏ. Chàng run run giơ tay lau vết máu dính trên miệng cô: “Tại sao phải đến cứu ta, nàng nên giấu ta, sống bình yên ở một nơi ta không hay biết mới phải”.

Cô cau mày: “Chàng là đệ tử của ta, là đồ đệ ta đích thân truyền dạy, cho dù chàng sai, khiến ta giận, ta có thể giận chàng, giáo huấn chàng, bắt chàng chịu khổ, nhưng những kẻ kia họ có là gì, đồ đệ chân truyền của ta sao có thể để bọn chúng hạ nhục?”.

Chàng ôm cô, bàn tay đặt trên eo cô, từ từ ép cô vào người, trong đôi mắt thâm trầm chất chứa bao nỗi niềm, lát sau giọng khàn khàn, chàng thầm thì: “Sư phụ, hãy trở về bên đồ đệ”.

Cô giơ tay, máu rỉ ra giữa các ngón tay, một con bướm theo vết máu bay đến, dừng lại giữa ngón tay cô, cô nhìn con bướm đó, môi cong cong khẽ nhếch thành nụ cười: “Trở về ư?”. Lại chầm chậm lắc đầu: “Không về được nữa, ta sắp chết”.

Bờ vai rộng của chàng run lên, thất kinh nhìn cô, giọng nói lại mơ hồ: “Sao có thể, cho dù ta sai, nàng vẫn nên trở về giáo huấn ta, bắt ta chịu khổ”.

Cô ngẩng đầu nhìn chàng một lát, đột nhiên mỉm cười: “Người của Trần vương thất nói ta thế nào, ta không bận lòng, chàng nghĩ gì ta cũng không bận lòng, chỉ là cảm thấy ta đã sống quá lâu trên đời, lâu đến mức cảm thấy vô vị, chàng khiến ta hiểu được chữ tình, nếm trải niềm hoan lạc của nó, cũng nếm trải nỗi đau của nó, một trải nghiệm viên mãn như vậy đối với một hồn ma không phải là chuyện kỳ thú sao? Giống như một bữa đại yến, sơn hào hải vị trời nam biển bắc đều có, vui vẻ thưởng thức hết các món, khách nhân nên giải tán”. Cô nói trơn tru, tinh thần vẫn tốt, nhưng sắc mặt đã dần trong suốt, bướm đỏ bay quanh càng nhiều, giống như chờ đợi thời khắc tống biệt cuối cùng.

Chàng nắm chặt áo cô, giọng rên rỉ như mãnh thú bị thương: “Cho dù nàng không cần ta nữa, nhưng vẫn còn cốt nhục của chúng ta, Tô Dự rất thông minh, nàng còn phải nhìn nó lớn lên, nhìn nó kế thừa xã tắc đại Trần”.

Chàng nghẹn ngào nhưng vẫn cố nói, dường như không cho cô cơ hội nói, không cho cô cơ hội chối từ, chỉ cần cô không từ chối, chàng sẽ giữ được cô.

Cô chỉ mỉm cười nhìn chàng, nụ cười đó bao hàm ý nghĩa gì không ai biết.

Một trận gió thổi qua, bóng chàng ôm cô đột nhiên cứng đờ, mãi sau, chàng loạng choạng đứng lên, trong tay chỉ còn bộ hoa phục màu đỏ.

Hoa Tư mộng đột ngột dừng lại, tôi ngồi ngây người hồi lâu mãi không thể định thần, Mộ Dung An quả nhiên chết ở chiến trường Lịch Khâu, sử sách không ghi chép tỉ mỉ, thì ra cô chết như vậy.

Con người đó, sống tự tại vô song, chết tư phong tuyệt đại, đó là Mộ Dung An, bí thuật sĩ cao minh nhất đông lục, là… thân mẫu của Tô Dự. Thì ra thân mẫu anh ta không phải là Mộ Chỉ.

Kể hết câu chuyện đó, Quân sư phụ cau mày chìm trong suy tư, thì ra đối với ông đây không phải là hồi ức đẹp, tôi và Quân Vỹ nhìn hoa đèn ngây người không biết nói sao.

Xem hoàn chỉnh quá khứ đó, tôi cảm thấy câu chuyện chẳng liên quan đến Quân sư phụ, không hiểu tại sao sư phụ lại thâm thù Trần vương, muốn giết ông ta. Nhưng trước mặt sư phụ, không dám nói ra với Quân Vỹ, chỉ giao lưu bằng ánh mắt không hé ra tư tưởng gì, một mình suy nghĩ hồi lâu, cảm thấy cách giải thích hợp lý nhất chỉ có thể là Quân sư phụ cũng có tình với Mộ Dung An, mới có thể thù hận Tô Hoành đã làm cô ấy chết như vậy. Nhưng lại nghĩ, Mộ Dung An không thể xúi quẩy đến thế, cả đời chỉ thu nạp hai đồ đệ, mà hai đồ đệ đó lại có tình cảm thầm kín không thể nói ra với mình như vậy.

Tôi còn chưa nghĩ ra nguyên do, Quân sư phụ đã nói: “Xem xong Hoa Tư mộng này, có lẽ con đã biết ta muốn con làm gì rồi chứ?”.

Tôi ôm đầu, buột miệng hỏi thử: “Sư phụ muốn con dệt mộng cho Trần hầu vương, giữ ông ta ở lại trong mộng?”.

Quân sư phụ cười, nhưng mắt vẫn lạnh tanh: “Đúng, Tô Hoành năm xưa từ bỏ sư phụ ta lựa chọn vương vị, chuyện này mặc dù sư phụ không nói ra, nhưng sự đau khổ của sư phụ hồi đó ta đều nhìn thấy hết. Sư phụ vốn có thể tiến xa hơn nữa, nhưng lại bị Tô Hoành ngáng đường. Đáng hận bởi vì sư phụ đã từ bỏ tất cả vì ông ta, nhưng ông ta lại không biết trân trọng, nếu mọi chuyện quay trở lại, ta muốn xem sau bao nhiêu năm đau khổ Tô Hoành sẽ lựa chọn thế nào. Nếu tình của ông ta đối với sư phụ bằng ấy năm vẫn không thay đổi, bằng lòng ở lại trong Hoa Tư mộng, ở bên sư phụ, ta sẽ bỏ qua cho ông ta, coi như kết thúc niềm tiếc nuối cuối cùng của sư phụ trên trần thế. Nếu ông ta vẫn lưu luyến ngôi báu vinh hoa, ta đành phụ lòng sư phụ, nhất định khiến ông ta chết không có chỗ chôn”.

Tôi băn khoăn nhìn Quân sư phụ, cảm thấy áp lực rất lớn. Nghe sư phụ nói vậy, nghĩa là ông muốn tôi dệt cho Tô Hoành một Hoa Tư mộng tái hiện quá khứ, để ông ta lựa chọn có lưu lại trong mộng hay không.

Nhưng chuyện này không giống với tình hình của Tống Ngưng, trong tình cảnh hiện tại của Tô Hoành, bất luận ông ta lựa chọn thế nào kết cục vẫn là cái chết, chỉ có khác chủ động chết và bị động chết mà thôi. Tôi cắn môi suy nghĩ, khẽ nói: “Rõ ràng có thể có bao nhiêu cách phục thù, sư phụ lại nhất định muốn con thực thi Hoa Tư dẫn đối với Tô Hoành, thực ra sư phụ chỉ muốn biết, năm xưa Mộ Dung An hy sinh tính mạng cứu ông ta rút cục có đáng hay không, con nói đúng chứ?”.

Ông không trả lời, những gì chất chứa trong mắt ông tôi khó lòng hiểu được.

Tôi nghĩ, một sử đoạn nhạy cảm bị che đậy bao năm, bị thời gian hơn hai mươi năm xói mòn, chẳng còn gì nữa, chỉ khắc thù hận vào lòng người sống, vật vã muốn có một kết quả cuối cùng trước khi quên lãng, nhưng cùng với thời gian cả người và việc đã thành cát bụi, cái gọi là đáng hay không, cho dù có được câu trả lời cũng chẳng để làm gì. Tôi không biết vì sao Quân sư phụ quyết chí báo thù Trần vương mối thù không phải của mình, nhưng nhìn ánh mắt ông lúc này lại đột nhiên cảm thấy có lẽ ông chỉ muốn dùng Hoa Tư dẫn khảo vấn nhân tâm một lần mà thôi.

Chú thích:

(6) Nghĩa là: Trọn đời bình an.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s